Ung thư đầu và cổ là gì? Các nghiên cứu khoa học liên quan

Ung thư đầu và cổ là nhóm bệnh lý ác tính phát sinh tại các cấu trúc giải phẫu vùng đầu cổ như khoang miệng, hầu họng, thanh quản, mũi xoang và tuyến nước bọt. Phần lớn thuộc loại ung thư biểu mô tế bào vảy, tiến triển tại chỗ nhanh và thường liên quan đến các yếu tố nguy cơ như thuốc lá, rượu và nhiễm virus HPV hoặc EBV.

Định nghĩa ung thư đầu và cổ

Ung thư đầu và cổ (Head and Neck Cancer – HNC) là nhóm ung thư ác tính xuất phát từ các mô mềm vùng đầu và cổ như khoang miệng, hầu họng, thanh quản, mũi xoang và tuyến nước bọt. Hầu hết bắt nguồn từ tế bào vảy (squamous cell carcinoma) lót niêm mạc các vị trí này, chiếm hơn 90% ca bệnh.

Theo dữ liệu toàn cầu GLOBOCAN 2020, HNC là loại ung thư phổ biến thứ 7 toàn cầu với khoảng 890.000 ca mới và 450.000 ca tử vong mỗi năm. Tại Mỹ, HNC chiếm khoảng 4% các ca ung thư được chẩn đoán hàng năm; con số này ở Anh tương đương khoảng 4% tổng số ca ung thư.

Phân loại theo vị trí giải phẫu

Ung thư đầu và cổ được phân loại theo vùng xuất phát như:

  • Khoang miệng (miệng, lưỡi, lợi, sàn miệng, vòm miệng cứng)
  • Hầu họng (nasopharynx, oropharynx, hypopharynx)
  • Thanh quản
  • Tuyến nước bọt
  • Mũi và xoang cạnh mũi

Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) là dạng phổ biến nhất trong nhóm này, trong khi các dạng như ung thư tuyến nước bọt hoặc ung thư mô mềm ít gặp hơn.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Yếu tố nguy cơ chính của ung thư đầu và cổ bao gồm hút thuốc, uống rượu, và nhiễm HPV loại 16 đặc biệt ở ung thư hầu họng. Việc sử dụng cả rượu và thuốc lá đồng thời làm tăng nguy cơ gấp nhiều lần so với chỉ dùng một trong hai.

Ngoài ra, nhiễm EBV làm tăng nguy cơ ung thư vòm họng; tiếp xúc nghề nghiệp với bụi gỗ, amiăng hoặc formaldehyde cũng là yếu tố đáng lưu ý.

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng thường gặp bao gồm đau họng kéo dài, khàn giọng, khó nuốt, loét miệng không lành, chảy máu miệng hoặc khối u vùng cổ. Những biểu hiện này dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý lành tính, dẫn đến chẩn đoán muộn ở nhiều trường hợp.

Việc nhận biết sớm các dấu hiệu này đặc biệt quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng và hiệu quả điều trị. Chiến dịch nâng cao nhận thức như kiểm tra gương 2 phút hàng tháng được khuyến khích ở một số quốc gia để giúp phát hiện sớm.

Phương pháp điều trị

Điều trị ung thư đầu và cổ thường yêu cầu phối hợp đa mô thức bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch. Khi bệnh ở giai đoạn khu trú, phẫu thuật loại bỏ khối u và mô lành bao quanh là phương pháp chủ yếu; sau đó có thể kết hợp xạ trị để loại bỏ tế bào còn sót lại.

Ở giai đoạn tiến xa khu vực (locoregionally advanced), hai hướng điều trị chính gồm phẫu thuật kèm xạ trị bổ trợ hoặc điều trị đồng thời hóa - xạ trị (chemoradiation), với phẫu thuật được dự trữ làm phương án cứu chữa nếu cần. Ngoài ra, liệu pháp miễn dịch như pembrolizumab (chống PD‑1) gần đây cho thấy cải thiện đáng kể thời gian không tái phát với gần gấp đôi thời gian so với điều trị tiêu chuẩn trong thử nghiệm lâm sàng lớn.

Tiên lượng và tỉ lệ sống còn

Tiên lượng ung thư đầu và cổ phụ thuộc vào giai đoạn chẩn đoán, vị trí khối u, và mức độ liên quan hạch hoặc di căn xa. Giai đoạn sớm có tỉ lệ sống sau 5 năm từ 70–90%.

Di căn hạch vùng làm giảm sự sống còn đáng kể; ung thư tiến xa có tỉ lệ sống sót thấp hơn. Tuy nhiên, chẩn đoán sớm và điều trị tích hợp giúp cải thiện khả năng điều trị thành công.

Phòng ngừa và phát hiện sớm

Phòng ngừa hiệu quả gồm ngừng sử dụng thuốc lá, hạn chế rượu, tiêm phòng HPV cho nhóm tuổi phù hợp và tránh tiếp xúc với ánh sáng UV hoặc chất độc nghề nghiệp như formaldehyde hay bụi gỗ.

Mặc dù hiện chưa có chương trình sàng lọc ung thư đầu và cổ đại trà, khám răng miệng thường xuyên giúp phát hiện sớm dấu hiệu bất thường. Người có tiền căn hoặc nguy cơ cao cần được theo dõi chặt chẽ.

Các kỹ thuật và hỗ trợ chức năng

Phục hồi chức năng sau điều trị là khâu quan trọng. Các kỹ thuật phẫu thuật tái tạo như phẫu thuật tự do "free-flap" hỗ trợ tái tạo mô bị cắt bỏ, giúp người bệnh khôi phục khả năng nói, nuốt hoặc thẩm mỹ.

Phục hồi chức năng (như vận ngôn ngữ, dinh dưỡng) và hỗ trợ tâm lý đóng vai trò then chốt giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và kết quả lâu dài.

Liệu pháp hiện đại và tiến triển tương lai

Transoral robotic surgery (TORS) là kỹ thuật mới có thể loại bỏ khối u qua miệng mà không cần mổ ngoài da, giảm mất máu, thời gian nằm viện và biến chứng so với phẫu thuật mở truyền thống.

Vắc xin mRNA nhắm mục tiêu kháng nguyên HPV trong điều trị các ung thư đầu và cổ giai đoạn tiến triển đang được thử nghiệm lâm sàng ở Anh dưới chương trình AHEAD-MERIT, mở ra hướng điều trị cá thể hóa mới.

Tài liệu tham khảo

Các bài báo, nghiên cứu, công bố khoa học về chủ đề ung thư đầu và cổ:

Phân Tích Cập Nhật của KEYNOTE-024: Pembrolizumab So với Hóa Trị Liệu Dựa trên Bạch Kim cho Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Tiến Triển với Điểm Tỷ Lệ Khối U PD-L1 từ 50% trở lên Dịch bởi AI
American Society of Clinical Oncology (ASCO) - Tập 37 Số 7 - Trang 537-546 - 2019
Mục đíchTrong nghiên cứu KEYNOTE-024 giai đoạn III ngẫu nhiên, nhãn mở, pembrolizumab đã cải thiện đáng kể thời gian sống không tiến triển bệnh và tổng thời gian sống so với hóa trị liệu dựa trên bạch kim ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) tiến triển chưa được điều trị trước đó, có tỷ lệ phần trăm khối u thể hiện PD-L1 từ 50% trở lên và khô...... hiện toàn bộ
#Ung thư phổi không tế bào nhỏ #NSCLC #pembrolizumab #hóa trị liệu dựa trên bạch kim #khối u thể hiện PD-L1 #EGFR/ALK #tổng thời gian sống #thời gian sống không tiến triển #chuyển đổi điều trị #tỉ số nguy cơ #sự cố bất lợi độ 3 đến 5 #liệu pháp đơn tia đầu tiên
Cuộc Khủng Hoảng Thuốc Giảm Đau Kê Đơn và Heroin: Cách Tiếp Cận Y Tế Công Cộng Đối Với Một Đại Dịch Nghiện Ngập Dịch bởi AI
Annual Review of Public Health - Tập 36 Số 1 - Trang 559-574 - 2015
Các cơ quan y tế công cộng đã mô tả, với sự lo ngại ngày càng tăng, về sự gia tăng chưa từng có của tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan đến việc sử dụng các loại thuốc giảm đau opioid (OPRs). Những nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng opioid chủ yếu tập trung vào việc giảm sử dụng OPRs không theo chỉ định y tế. Tuy nhiên, điều cần thiết được xem xét quá thường xuyên là việc phòng ngừa và điều trị ng...... hiện toàn bộ
#opioid #nghiện ngập #y tế công cộng #phòng ngừa #tỷ lệ mắc bệnh #thuốc giảm đau #điều trị
Thống kê Ung thư, Xu hướng và Phân tích Ung thư Đầu tiên Nhiều từ Chương trình Giám sát, Dịch tễ học và Kết quả (SEER) Dịch bởi AI
Oncologist - Tập 12 Số 1 - Trang 20-37 - 2007
Mục tiêu học tập Sau khi hoàn thành khóa học này, người đọc sẽ có khả năng: Thảo luận về những thay đổi đang diễn ra liên quan đến các tiêu chuẩn ung thư sau: độ tuổi trung bình khi chẩn đoán, tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, nguy cơ trong suốt cuộc đời, tỷ lệ sống sót và tỷ lệ hiện mắc. Giải thích các khái niệm quan trọ...... hiện toàn bộ
Lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa: liệu việc biết về chẩn đoán ung thư có quan trọng không? Dịch bởi AI
BMC Gastroenterology - - 2007
Tóm tắt Giới thiệu Ung thư đường tiêu hóa là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở nam giới và đứng thứ hai ở phụ nữ tại Iran. Một nghiên cứu đã được tiến hành để khảo sát tình trạng lo âu và trầm cảm trong nhóm bệnh nhân này và xem xét liệu việc nhận thức về chẩn đoán ung thư có ảnh hưởn...... hiện toàn bộ
#ung thư #lo âu #trầm cảm #chẩn đoán ung thư #đau khổ tâm lý
AFP, PIVKAII, GP3, SCCA-1 và follistatin như các dấu ấn sinh học giám sát ung thư biểu mô tế bào gan trong bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và do rượu Dịch bởi AI
BMC Cancer - - 2008
Tóm tắt Bối cảnh Tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) trong bối cảnh bệnh gan nhiễm mỡ do rượu (ALD) và không do rượu (NAFLD) đang gia tăng tại các xã hội phương Tây. Mặc dù biết được các quần thể có nguy cơ phát triển HCC, việc thiếu các phương tiện giám sát nhạy cảm và đặc h...... hiện toàn bộ
#ung thư biểu mô tế bào gan #bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu #bệnh gan nhiễm mỡ do rượu #dấu ấn sinh học #alpha-fetoprotein #PIVKA-II #glypican-3 #antigen ung thư biểu mô vảy #follistatin
Giảm AFP và PIVKA-II có thể dự đoán hiệu quả của liệu pháp miễn dịch chống PD-1 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) Dịch bởi AI
BMC Cancer - - 2021
Tóm tắt Đặt vấn đề Rất ít chỉ báo sinh học có thể dự đoán hiệu quả của chặn PD-1 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá vai trò tiên lượng của AFP và PIVKA-II ở các bệnh nhân HCC đang điều trị liệu pháp miễn dịch chống PD-1. Phương pháp... hiện toàn bộ
#AFP; PIVKA-II; Thuốc ngăn chặn PD-1; Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC); Liệu pháp miễn dịch; Dấu hiệu dự báo; Tỷ lệ phản ứng khách quan (ORR); Thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS); Thời gian sống tổng thể (OS)
Làm mát da đầu để ngăn ngừa rụng tóc ở bệnh nhân ung thư vú nữ người Nhật nhận hóa trị liệu bổ sung hoặc hóa trị liệu neo-adjuvant Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 29 - Trang 437-443 - 2020
Làm mát da đầu trong quá trình truyền hóa trị gần đây đã được báo cáo có hiệu quả vừa phải trong việc giảm thiểu rụng tóc do hóa trị gây ra; tuy nhiên, rất ít báo cáo về bệnh nhân châu Á. Chúng tôi nhằm làm rõ hiệu quả của việc làm mát da đầu ở phụ nữ Nhật Bản. Các bệnh nhân ung thư vú người Nhật dự kiến sẽ nhận hóa trị liệu (neo)adjuvant tham gia vào nghiên cứu tiềm năng này về hiệu quả của việc ...... hiện toàn bộ
#làm mát da đầu #hóa trị liệu #rụng tóc #ung thư vú #bệnh nhân người Nhật
Ảnh hưởng của tập luyện cường độ cao theo chu kỳ đối với việc cải thiện độ cứng động mạch ở sinh viên nữ đại học Trung Quốc có cân nặng bình thường nhưng béo phì: một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng ban đầu Dịch bởi AI
Journal of Translational Medicine - Tập 20 Số 1 - 2022
Tóm tắt Đặt vấn đề Tập luyện cường độ cao theo chu kỳ (HIIT) đã được báo cáo là có tác động tốt hơn đến thể chất tim mạch trong trường hợp béo phì, nhưng rất ít được biết đến về độ cứng động mạch (AS) ở sinh viên nữ đại học có cân nặng bình thường nhưng béo phì (NWO). Do đó, nghiên cứu này nhằm điều...... hiện toàn bộ
Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá khả năng nứt ở độ tuổi ban đầu của bê tông thường và bê tông cường độ cao bằng phương pháp vòng kiềm chế
Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng - - 2023
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá khả năng nứt ở độ tuổi ban đầu của bê tông thường (NC) và bê tông cường độ cao (HC) bằng phương pháp vòng kiềm chế, nhằm cung cấp cho việc dự đoán khả năng ứng xử của từng loại bê tông để từ đó đưa ra những biện pháp thi công phù hợp cho công trình xây dựng. Hai loại bê tông được khảo sát bao gồm NC với mác thiết kế M350 và HC với mác thiết kế M600. Kết q...... hiện toàn bộ
#Cường độ chịu nén #Cường độ chịu kéo #Mô đun đàn hồi #Mức ứng suất kéo #Phương pháp vòng kiềm chế
Ảnh hưởng của ứng dụng di động (ứng dụng nhắc nhở) đến độc tính cấp tính trong quá trình xạ trị ung thư đầu và cổ – kết quả của một thử nghiệm ngẫu nhiên giai đoạn III (RAREST-02) Dịch bởi AI
BMC Cancer -
Tóm tắt Nền tảng Xạ trị ung thư đầu và cổ (SCCHN) thường liên quan đến độc tính cấp tính. Trong một thử nghiệm trước đó, việc nhắc nhở hàng ngày của nhân viên về việc chăm sóc da đã dẫn đến giảm tỷ lệ viêm da. Thử nghiệm ngẫu nhiên này nhằm điều tra xem liệu một ứng dụng di động có thể thay thế các ...... hiện toàn bộ
Tổng số: 166   
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 10